CF Tâm Thức Wien - Cà phê sạch, cà phê rang xay, kiến thức cà phê, thị trường cà phê, tin tức cà phê tổng hợp
Đệm | Đệm giá rẻ | Đệm lò xo | Đệm Sông Hồng | Đệm Sông Hồng | Đệm Everhome | Đệm mút | Đệm mút cứng | Đệm Queensweet | Đệm Liên Á | Đệm Korea Chung cư Green Stars | |vé máy bay vietjet air |ve may bay vietjet air |vé máy bay jetstar |ve may bay jetstar | vé máy bay vietnam airlines| ve may bay vietnam airlines|ve may bay gia re|vé máy bay giá rẻ | Fhome, Chung cư Fhome Đà Nẵng, Fhome Đà Nẵng , Chung cư Đà Nẵng , Chung cư cao cấp Fhome Đà Nẵng , chung cư Handiresco , chung cu Handiresco , chung cư Handi resco , chung cu Handi resco le van luong , Chung cư Handiresco 89 lê văn lương , chung cư Handi resco lê văn lương , chung cu Handi resco le van luong , chung cư Handi resco lê văn lương , Chung cư Greenstars , Chung cu Greenstars , Chung cư Green stars , Chung cu Green stars , Chung cư Greenstars , Chung cu Greenstars , Chung cư Greenstars tòa a3 ,

Trang chủ » Cà Phê » Văn hóa cà phê

CF | Tâm Thức Wien

Thứ tư - 19/03/2014 04:42
Bản thân Wien là một thiên sử thi tráng lệ: thiết lập vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên với tên gốc là “Thành Phố Trắng” (Vindobona) bởi người Celtes, một hệ tộc Ấn-Âu; trở thành tiền đồn của đế chế La Mã, vào năm 15 trước công nguyên, trấn ngự cương vực giữa Tây và Đông của châu Âu nhìn từ trung tâm Roma của đế quốc; Wien được chọn làm thủ đô của đế chế Áo thuộc vương triều dòng họ Habsburg từ 1452. Kể từ 1682, sau khi phá trận bao vây lần thứ hai của đế chế Thổ, Wien trở thành cứ điểm trọng yếu trên đường thâm nhập của cà phê vào Tây Âu.
CF | Tâm Thức Wien

CF | Tâm Thức Wien

Đến 1867, với một đế chế Áo-Hung trải dài từ Milan đến Lwow (thành phố lớn nhất ở phía Tây Ukraina), từ Praha (Tiệp) đến Raguse (ngày nay là Dubrovnik, thuộc Croatie), bao gồm Venice, Zagreb (thủ đô của Croatie), Cracovie (thành phố cổ xưa nhất của Ba Lan) và Budapest (thủ đô của Hung), Wien khẳng định mình như là tâm điểm của Mitteleuropa (nghĩa đen là giao diện lịch sử giữa Tây Âu và Đông Âu), cái nôi của sự “bùng nổ văn hóa” châu Âu kể từ giữa hậu bán thế kỷ XIX. Sau đệ nhất thế chiến đến 1934, Wien lại được mệnh danh là “Thành Phố Đỏ”, nơi chốn định hình và ảnh hưởng của “Mác Xít Áo”. Từ 1938 cho đến khi kết thúc thế chiến lần hai, Wien nằm dưới tay của phát xít Đức và bị chia cắt sau đấy thành bốn địa phận thuộc quyền kiểm soát của các quân đội đồng minh. Đến 1955, Áo mới được nhìn nhận là quốc gia độc lập và thủ đô Wien bước vào thời kỳ hiện đại với một hành trang vừa nặng vừa đầy. Vào cuối thập niên thứ nhất của thế kỷ XXI, Wien lại trở thành “Thành Phố Xanh” hàng đầu thế giới với hơn 50% diện tích của thủ đô được bao phủ bởi những công viên và ba vườn quốc gia rộng lớn nằm ngay giữa lòng thành phố. Và 700 héc ta trồng nho trong các vườn nội đô còn được bọc ở phía ngoại vi thành phố bởi 40 cây số bãi bờ dập dìu đất trời sông nước của Danube, dòng sông dài thứ hai của châu Âu (sau Volga), bắt nguồn từ Rừng Đen để đổ ra Biển Đen.


Cà phê và hàng quán cà phê của Wien, kể từ khi ra đời, chứa chan trong lòng mình những đặc tính lịch sử và địa dư ấy: khởi sự biết đến từ những chiến lợi phẩm thu được trên chiến trường sau khi bại quân của đế chế Thổ rút chạy, cà phê, nấu và ngâm theo kiểu Thổ, không tạo được ấn tượng lắm trong khẩu vị của dân thành Wien. Do vậy mà ngay từ quán cà phê đầu tiên (1683), mang tên Zur Blauen Flasche (“Chiếc Lọ Xanh”), các Kaffeehaus (nghĩa đen là “ngôi nhà của cà phê”) ở Wien - trong suốt hơn 20 năm đầu - đã phải miệt mài cất công sáng tạo đồng thời hai tính chất đặc thù, biến thành hai biểu trưng hết sức độc đáo của điều được gọi là “cách thưởng lãm cà phê Áo của thành Wien” ngày nay. Đó là những loại cà phê được pha chế không đậm lắm, tương đối ngọt, với khá nhiều sữa hoặc kem tươi (cũng có thể dùng cả hai), lại lắm khi được trộn thêm với nhiều loại rượu mùi (1). Đặc tính thứ hai là các loại bánh ngọt ăn kèm (2): chẳng ngẫu nhiên khi ngày nay nói đến cà phê Áo là phải nói đến “Viennoiseries” hay “Viennese Pastries” (nghĩa đen là “đồ ngọt thành Wien”), bao gồm không dưới 30 loại bánh khác nhau từ đẳng cấp thượng lưu nhất là “Original Sacher-Torte” (bánh trộn kem cacao và hạnh nhân) cho đến phổ quát nhất là “Apfelstrudel” (bánh nhân táo thường được ăn với sốt vanille).

Tiếp liền với loại hình quán “cà phê-bánh” là “cà phê-hòa nhạc”, “cà phê-cờ vua” và “cà phêbillard”: Wien là thủ đô duy nhất trong lịch sử có thể tự hào là nơi sinh sống của phần lớn các tài danh âm nhạc lừng vang thế giới. Quả thế, với Haydn đến Mozart và Beethoven, với Schubert đến Liszt và Brahms, với Strauss đến Bruckner và Mahler, Wien đã trở thành “thủ phủ của thế giới nhạc hòa tấu cổ điển” mà danh tiếng lại càng thêm nổi trội từ khi có “Haus der Wiener Musikvereins” (3). Ngoài ra, kể từ 1780, hai thể loại “mới” đã lôi cuốn rộng khắp sự hâm mộ của các giới thượng lưu, đó là “Valse thành Wien” (“Wiener Walzer”) lả lướt dập dìu (4) và dàn đồng ca thiếu nhi (“Wiener Sawngerknaben”) mượt mà bất hủ, khởi nguồn từ một loại “Lied” (“biến tấu từ thánh ca”) thanh thoát tuyệt vời (5). Trong bối cảnh của một “thành Wien sống và thở cùng tiếng nhạc” điều được coi như đương nhiên là sự xuất hiện, ở rất nhiều quán cà phê, của các dàn hợp tấu có tên là Braunerhoftrio, chủ yếu gồm đàn vĩ cầm, hồ cầm và dương cầm, nhằm dễ dàng trình diễn các “medleys” (là những giao hưởng pha trộn một cách bất ngờ nhiều dòng nhạc khác nhau) cổ điển mà lại đầy tính ngẫu hứng.

Với khí quyển văn hóa đầy tính thượng lưu như trên, hệ luận gần như tất yếu là ngoài thú chơi bài hay đổ xúc xắc vẫn thường thấy vào thời ấy trong các hàng quán cà phê ở nhiều nước khác nhau trên thế giới, ở Wien còn phổ biến thú chơi cờ vua và billard: khi một bên nặng về hên xui may rủi, chủ yếu mong vào vận hạn đỏ đen và một bên lại đòi hỏi nhiều nghĩ suy nước bước đường đi, dựa vào tư duy tiên liệu, khi một bên nghiêng về tham lam thấu cáy và một bên thiên về trầm tĩnh xét nghiệm, thì chẳng vô cớ mà các quán cà phê lớn ở Wien vẫn có xu hướng gắn kết “không gian bay bổng” của “cà phê-hòa nhạc” với “không gian trầm ngâm” của “cà phê-cờ vua” và “cà phê-billard”!


“Cà phê-ốc đảo” không chỉ có nghĩa ở đây là mỗi quán cà phê là một nơi chốn riêng biệt đặc thù so với các quán cà phê khác mà ngay trong mỗi một quán cà phê là sự hiện diện của nhiều khuôn viên nhỏ, theo hướng vừa riêng biệt vừa tách biệt. Quả vậy, nằm trong một đế chế trải dọc từ Bắc Ý lên đến phía Tây của Ukraina bao gồm 11 quốc tịch bản địa sử dụng 15 ngôn ngữ khác nhau chính thức được nhìn nhận, hàng quán cà phê ở Wien thể hiện rõ ràng đặc tính ấy: từ cách xếp mỗi bàn khá cách xa nhau (để những người ngồi ở bàn này có thể trao đổi với nhau trong ngôn ngữ của mình mà không sợ làm phiền những người ngồi ở bàn khác)(6) đến cách tạo những góc khuất trong trang trí bày biện nội thất để tránh những cái nhìn xuyên suốt bất tiện (7), hàng quán cà phê ở Wien chứa ngay trong lòng mình rất nhiều ốc đảo nhỏ mà ở đấy mỗi một người có thể sống với thế giới của riêng mình.

Chính trong chiều hướng ấy mà không gian hàng quán cà phê ở Wien vẫn thường được phân thành nhiều loại hình khuôn viên khác nhau: ngoài trừ ở khuôn viên của “cà phê-billard” là bàn được xếp liền kề nhau và không có các góc khuất (để mọi người dễ di và bình luận với nhau về những trận tranh tài ở các bàn billard thường được đặt ngay ở giữa khuôn viên), tất cả các khuôn viên khác - từ “cà phê-hòa nhạc” đến “cà phê-bánh”, từ “cà phê-cờ vua” đến “cà phê-thư viện báo” - đều là những nơi chốn “trùng trùng ốc đảo”.

Đặc tính của “cà phê-thư viện báo” cũng chẳng tự nhiên mà có: sống ở thủ đô của một đế chế lớn, những thông tin liên quan đến các địa phương hay lĩnh vực khác nhau và được truyền tải bởi những ngôn ngữ thích hợp là nhu cầu thiết yếu. Do vậy, hàng quán cà phê ở Wien không thể không có một khuôn viên thuộc “loại hình ốc đảo” (8) riêng dành cho việc đọc báo của khách hàng. Không chỉ vậy, quán cà phê ở Wien còn phải cung ứng kịp thời nhiều loại báo ngày và tạp chí khác nhau. Một thí dụ điển hình: với sự sôi động của tình hình thế sự trước cuộc bùng nổ thế chiến lần thứ nhất, vào năm 1913, quán cà phê Central có đến 250 tờ báo hàng ngày và tạp chí định kỳ để phục vụ việc đọc tại chỗ của khách hàng.

Nói tóm gọn, từ phân giải trên, hai loại hình quán cà phê đặc trưng tiêu biểu cho “tâm thức Wien” là: hoặc quán phải khá lớn, nghĩa là đủ diện tích để dung chứa tất cả mọi khuôn viên từ “cà phê-bánh” đến “cà phê-billard” và “cà phê cờ vua”, từ “cà phê-hòa nhạc” đến “cà phê-thư viện báo” và “cà phê-ốc đảo” (thường được bố trí ở những tầng khác nhau, từ tầng hầm kín đáo đến tầng cao có sân thượng mở ra một cảnh quan thoáng đạt ngang qua đại sảnh của tầng trệt với vòm cao vời vợi), hoặc vì quán nhỏ nên phải trở thành chuyên biệt, riêng dành cho một khuôn viên duy nhất hay hai khuôn viên tương hợp, thường được gọi là “Vorstadt-Kaffeehaus” (nghĩa đen là “quán cà phê ngoại ô”, hiểu ở đây là “quán cà phê nhỏ chuyên biệt”) .

Những dòng hợp lưu của sự “bùng nổ văn hóa” ở Wien kể từ giữa hậu bán thế kỷ XIX còn làm tăng thêm tính chất đặc trưng trên của các hàng quán cà phê. Quả vậy, gần như liên tục tiếp nối nhau, đã khởi xuất từ Wien biết bao là cội nguồn của những tư tưởng và trường phái nhân văn lừng danh trong lịch sử: từ phân tâm học dựa vào việc tìm hiểu vô thức của Sigmund Freud đến triết học về ngôn ngữ, luận lý và hình ảnh của Ludwig Wittgenstein, từ hội họa biểu tượng của Gustav Klimt đến đường nét phá cách của Egon Schiele và sắc màu diễn ngôn của Oskar Kokoschka, từ phong trào ly khai trong hình thể kiến trúc của Josef Maria Olbricht đến sự phá bỏ tính rườm rà trong trang trí của Adolf Loos, từ lang thang trần giới trong thơ văn của Rainer Maria Rilke đến mộng du giữa ngày của Peter Altenberg và mơ về hình bóng con người trong các trường thiên tiểu thuyết của Robert Musil hay Gustav Meyrinck, từ giữ lại hồn xưa của những dòng thơ đầy tiếng nhạc của Hugo von Hofmannsthal đến chẳng còn gì để hoài mong trong nhiều tự truyện của Stefan Zweig… tất cả đều đã góp phần củng cố và phát triển những đặc tính bất hủ của hàng quán cà phê ở Wien.

Mà đúng là vậy, không ít quán cà phê ở Wien ngày nay tự hào là nơi chốn chứa đầy “ấn tích của chúa sơn lâm” (“Vestigum Leonis”, tiếng Latin, nghĩa đen là “dấu vết của sư tử”)(9): rất nhiều tên tuổi tài danh trên đã chọn quán cà phê để biến thành khi thì là “ốc đảo của bản thân” khi thì là nơi tiếp bạn thâm giao hoặc thậm chí là nơi trú ngụ thường kỳ (10). Trong vòng gần 100 năm, từ giữa hậu bán thế kỷ XIX đến gần giữa thế kỷ XX, ở Wien không chỉ đã lớn mạnh một giới văn nhân thức giả được gọi là “caféinomane/coffee addict” (nghĩa đen là “dân nghiện cà phê”) hiểu theo ý nếu không có cà phê và hàng quán cà phê thì không chắc là đã có được một số lớn tác phẩm của những danh tài (11) ấy mà còn cơ bản hơn là nhờ những sinh hoạt ở các hàng quán cà phê ở Wien mà ý niệm “Nobilitas Literaria” đã được xác minh.

“Nobilitas Literaria” có nghĩa là “sự quý phái thật sự chính là sự quý phái của tư duy”. Thành ngữ tiếng Latin này được dùng vào thời ấy để đối kháng với sự “quý phái phát sinh từ dòng tộc hay/và phả hệ lịch sử” và chính xác là để làm nổi bật tính chất hết sức nổi trội của hàng quán cà phê ở Wien: khác với sự quý phái ở Pháp và Ý thường dựa vào dòng tộc hay/và phả hệ lịch sử, ở Áo, trong một đế chế mà nhân tâm không thuần nhất, tính dòng tộc hay/và phả hệ lịch sử không thể được khai thác để thể hiện sự quý phái. Do vậy, nếu những đặc trưng trong lĩnh vực cà phê ở Pháp đã được gọi một cách tự hào là “Đẳng Cấp Pháp” và ở Ý là “Phong Cách Ý” thì ở Áo lại được tôn vinh như “Tâm Thức Wien”. Wien đã dựa vào sự “bùng nổ văn hóa” phát xuất từ đặc trưng của mình là “giao diện giữa Tây Âu và Đông Âu” (Mitteleuropa) để biến hàng quán cà phê thành nơi chốn khẳng định “sự quý phái thật sự của bản thân là phát xuất từ sự quý phái của tư duy”. Chính vì vậy mà hàng quán cà phê ở Wien đã trở thành nơi chốn của điều đã được gọi theo tiếng Latin là “Cultura Animi” (12), nghĩa là “Văn Hóa của Hồn Người” (13), hiểu theo hướng là ở nơi ấy con người mong muốn thăng hoa được phận số của mình nhờ chính tư duy của chính mình: chẳng vô cớ mà câu thơ bất hủ của Rainer Maria Rilke “Du sollst dein Leben ändern” (“Bạn phải thay đổi cuộc đời mình”) đã trở thành phương châm “hiệu triệu” của nhiều hàng quán cà phê ở Wien thời bấy giờ.

Nhưng, vốn là giao diện giữa Tây Âu và Đông Âu, Wien phải đối đầu với một điều ghê gớm: trong một đế chế bao gồm nhiều quốc gia và dân tộc “đồng sàng dị mộng”, sự đơn chiếc của những nỗi niềm về quá khứ và hướng vọng đến tương lai là điều không thể tránh khỏi. Do đó, chẳng vô cớ mà quán Central Kaffeehaus (thành lập vào 1856) đã mang hình ảnh một “kinh tuyến của miền đơn độc” (14) và Museum Kaffeehaus (khai trương năm 1899) lại được mệnh danh là “quán cà phê của hư vô” (Nihilismus Kaffeehaus): quán Central Kaffeehaus, nơi hội tụ của tất cả mọi hoài mong đổi đời trong những thập niên cuối của thế kỷ XIX, từ lĩnh vực văn hóa đến chính trị, cuối cùng lại là nơi chốn mà chẳng còn ai thật sự hiểu được ai vì khó chia sẻ được với nhau những ấp ủ của riêng mình, nhất là khi mỗi một người đều tin chắc vào niềm tin của chính mình (15) và quán Museum Kaffeehaus lại mang cái tên gần như “tiền định”: nơi bảo tàng của tất cả những ước vọng rốt cuộc rồi chẳng thành của một thế kỷ đang tan vào quá vãng, chẳng khác nào một chốn chứa đầy hư không. Đặt lại trong bối cảnh ấy, mới hiểu được vì sao cuốn tự truyện cuối cùng của văn hào Stefan Zweig, viết trước khi tự vẫn ở Brazil vào 1942, miêu tả về những chặng đời và những con người đã gặp ở các quán cà phê của Wien kể từ cuối thế kỷ trước, lại mang tựa đề Thế Giới của Ngày Qua. Ngày nay, mặc dù không ít hàng quán cà phê ở Wien vẫn còn giữ gìn được không gian xưa cũ nhưng khí quyển văn hóa chứa chan nhân tình mơ ước của ngày trước chỉ còn chập chờn trong hoài niệm. “Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ (16)?!



1
Hai loại cà phê pha với rượu mùi nổi tiếng thượng lưu của Wien là “Maria Theresia” (là tên của Nữ hoàng duy nhất nắm quyền cai trị trong dòng tộc Habsburg, vào giữa thế kỷ XVI) gồm 2 phần cà phê và một phần rượu mùi cam cùng với kem tươi đánh bông và “Fiaker” gồm hai phần cà phê, một phần rượu kirsche (chiết xuất từ trái sơ ri lên men) và kem tươi. Ngoài ra, do có đến hơn 300 nhà sản xuất rượu “đặc sản địa phương” (từ 700 héc ta trồng nho trong các vườn nội đô) quy tụ trong hợp tác xã “Rượu của thành Wien” (“Wien Wein”), các quán cà phê ở Wien thường có “truyền thống” là bán luôn cả rượu (loại rượu trắng nhẹ vẫn thường được sử dụng như khai vị nổi tiếng nhất của Wien là “Gemischter Satz” và loại “đẳng cấp” là “Gruner Veltliner”). Do vậy, giữa chiều giá lạnh, thưởng thức cốc rượu trắng nhẹ khai vị trước khi thử miếng bánh ngọt và sau đấy là thưởng lãm cà phê thuộc loại “schwarzer” (đen) hay “brauner” (nâu) hoặc là “einspanner” (có thêm kem tươi) hay “eiskaffee” (pha kem lạnh) là thú phổ biến của “bậc thức giả thành Wien”.

2Có thể nói một cách chính xác hơn, là trong khoảng 50 năm đầu, ở Wien, cà phê là để “uống kèm” với bánh ngọt. Sau đấy, khi các Kaffeehaus đã phát triển nhiều cách pha chế khác nhau, bánh ngọt mới trở thành ăn kèm với việc thưởng thức cà phê. “Truyền thống” ấy được thể hiện ngày nay trong các Kaffeehaus lớn ở Wien với sự phân công giữa “Ober” (mặc bộ complet đen) phục vụ cà phê và “küchenmädchen” (áo sơ mi đen với quần đen và quấn tạp dề thêu ren màu trắng) phục vụ bánh ngọt. Tiệm “cà phê-bánh” cổ xưa và nổi tiếng nhất của Wien là Hofzuckerbacker Demel (gọi ngắn gọn là Der Demel) được thành lập vào 1786 sau gần một thế kỷ phục vụ Hoàng gia Áo.


3Nghĩa đen là “ngôi nhà của thế giới âm nhạc ở Wien», thành lập vào đầu 1870, là một trong ba thính phòng nhạc cổ điển hoàn hảo nhất thế giới, có sức chứa cao nhất là 1.744 chỗ ngồi. 2 thính phòng kia là Symphonie Hall (Boston, Mỹ, 1900, sức chứa cao nhất là 2.625 chỗ ngồi) và Concertgebouw (Amsterdam, Hà Lan, 1888, sức chứa cao nhất là 2.000 chỗ ngồi).

4Khác với các điệu Valse Boston hay Valse Anh, chậm hơn. Chính là cuốn tiểu thuyết Những Nỗi Đau của Chàng Trai Trẻ Werther (“Die Leiden des jungen Werthers”, xuất bản lần đầu vào năm 1774) của Goethe, với đoạn miêu tả tuyệt vời về “Wiener Walzer” đã làm vang danh “Valse Thành Wien” trong lòng các giới quý tộc. Brahms, Chopin, Liszt, Johann Strauss (cả cha và con) đã để lại những điệp khúc tuyệt vời cho “Wiener Walzer” (Về valse nói chung thì phải kể đến các tuyệt tác của Tchaikovski và Ravel).

5Franz Schubert, Gustav Mahler và Richard Strauss là ba nhà soạn nhạc Lied vang danh nhất. Riêng một mình Schubert đã soạn đến 625 bài Lied!

6Ngoài ra, là vì còn để tránh “tai vách mạch rừng” (các bộ phận an ninh của chính quyền đế chế vẫn thường hay cử người theo dõi những trao đổi ở hàng quán cà phê để “nắm bắt và điều chỉnh tình hình”) nên các bàn được xếp khá xa nhau!

7Chính vì cách bày biện có nhiều góc khuất làm “không gian bị gãy cạnh” nên các vòm trần nhà của những quán cà phê lớn ở Wien vẫn thường là rất cao để mang đến cảm nhận thoáng đạt từ một phối cảnh có tính hướng thượng.

8Loại hình ốc đảo trong khuôn viên “cà phê-thư viện báo” còn chịu thêm ảnh hưởng từ một đặc trưng lịch sử: cho đến đầu thế kỷ XX, không ít người vẫn có thói quen đọc nhẩm thành tiếng (nghe bằng tai những gì mắt đọc thấy), do vậy, bố trí của các nơi để đọc báo ở các cà phê lớn thường là được khoanh thành từng ô nhỏ (“BOX”) với những bàn đặt tương đối khá xa nhau, mang hình dáng của loại “độc phòng” trong các tu viện ở châu Âu.

9
Cụ thể là trên vách của nhiều quán cà phê ở Wien ngày nay được treo những bảng đồng ghi tên tuổi hoặc hình ảnh và cả tượng đắp nổi của những tài danh đã một thời là khách hàng thường xuyên của quán.

10Một thí dụ điển hình: địa chỉ liên lạc của nhà văn Peter Altenberg Áo (1859- 1919) chính là địa chỉ của quán cà phê Central ở Wien. Ngày nay, tượng của nhà văn ấy được đặt ngay giữa đại sảnh của quán cà phê Central.

11Rất nhiều tác phẩm từ nhạc đến thơ và tiểu thuyết tự truyện của thời kỳ ấy có chủ để và bối cảnh là cà phê và hàng quán cà phê.

12Nghĩa đen là “con người là động vật có văn hóa” thành ngữ của Cicero (106-43 trước CN). 13 Đó chính là lý do cơ bản để UNESCO nhìn nhận, vào 2011, hàng quán cà phê ở Wien là di sản phi vật thể của nhân loại.

14Là cách diễn đạt của Alfred  Polgar “Théorie du Café Central” (nguyên tác bằng tiếng Đức, Belin, 1926) trong “ThEorie Des Cafés. Anthologie”, Textes réunis par Gérard- Georges Lemaire, ed. Eric Koehler, 1997.

15Đó là nghĩa thứ hai của ý niệm “Vestigum Leonis / Ấn tích của chúa sơn lâm”: bản thân của mỗi một danh tài là một thế giới vốn đã là rộng lớn riêng biệt nên khi các “chúa sơn lâm” gặp nhau thì lại dễ nảy sinh ra hiện tượng “cọp nào rừng nấy”. Trong chiều hướng ấy, ý niệm “cà phê-ốc đảo” lại càng thêm thâm trầm và, chẳng hạn, nếu nhìn hai tấm hình lưu niệm của Central Kaffeehaus chụp cảnh Lénine ngồi đọc báo trong góc khuất hay Trostky ngồi đánh cờ vua một mình, lại càng thêm thấm thía ý nghĩa “kinh tuyến của miền đơn độc”!

16Thơ của Vũ Đình Liên (1913-1996) “Ông Đồ”

Nguồn tin: CF

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
quản cáo GK
gia khang
May xay ca phe
cafesach.net

Chuyên mục